Tóm tắt bệnh Táo bón

Táo bón là hiện tượng cảm thấy khó chịu, khó khăn khi đại tiện do phân thường cứng và khô. Táo bón nặng có thể dẫn đến hiện tượng phân bị nêm chặt, gây tắc ruột.

Các nguyên nhân chính của táo bón bao gồm: mất nước, lối sống ít vận động, thuốc (đặc biệt là các chất ma tuý), căng thẳng, mang thai, lạm dụng thuốc nhuận tràng, trầm cảm, chế độ ăn uống ít chất xơ.

Triệu chứng

  • Đi đại tiện khó và không đều.
  • Đau trực tràng, đau bụng.
  • Buồn nôn, ói mửa.

Chẩn đoán

  • Hỏi bệnh sử và khám thực thể.
  • Thông thường bệnh nhân không cần làm xét nghiệm mặc dù trong một vài trường hợp việc đo nồng độ TSH trong máu để kiểm tra chức năng tuyến giáp được chỉ định.
  • Phương pháp chụp cắt lớp vi tính cũng có thể được chỉ định để loại trừ các nguyên nhân khác gây ra các triệu chứng nếu cần thiết.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), chụp X-quang.

Điều trị

Điều trị bao gồm:

  • Thuốc làm mềm phân.
  • Thuốc nhuận tràng.
  • Thụt tháo bằng các chất nhày hoặc thụt tháo vi lượng.

Việc sử dụng lâu dài các loại thuốc làm mềm phân có thể cần thiết. Thay đổi loại thuốc được chẩn đoán là góp phần gây táo bón (ví dụ như loại thuốc giảm đau nào đó) có thể hữu ích.

Tổng quan bệnh Táo bón

Khi bị táo bón, phân thường cứng và khô.

Hiện nay có nhiều người bị táo bón. Táo bón khiến người bệnh khó chịu, mệt mỏi, nếu để lâu sẽ dẫn tới bị bệnh trĩ, phình đại tràng, viêm đại tràng, lâu dần biến chứng có thể dẫn tới ung thư đại tràng.

Táo bón hay gặp ở trẻ khi ăn thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ.

Các cơ bụng và thành ruột cũng có vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón. Những đứa trẻ còi xương, đẻ thiếu tháng rất hay bị táo bón. Ở những trẻ lớn hơn, táo bón thường do ăn quá nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết, có khi do lỗ hậu môn bị rạn.

Điều trị bệnh

 

Chất xơ và chất nhày:

  • Chất xơ trong thức ăn có tác dụng hút nước làm gia tăng khối lượng phân và sức vận chuyển của ruột. Các chất này bị các khuẩn ruột giáng hóa tạo ra các acid béo bay hơi như Acetat, Propionat…vv các acid này có tác dụng nhuận tràng. Từng loại sợi thức ăn có tác dụng nhuận tràng khác nhau, như cám mì cho lượng phân tăng lên 127%, cải bắp làm tăng 69%, cà rốt 59%...vv. Bột cám có tác dụng hơn cả, khi sử dụng phải cho liều tăng dần, đồng thời uống nhiều nước và dùng dài ngày.
  • Chất nhày có nhiều chuỗi dài hydratcacbon có tác dụng hút nước rất mạnh, không tiêu. 
    • Chất nhày lấy từ tảo biển có pH trung tính làm cho phân thuần nhất.
    • Chất nhày dạng gôm như Sterculia, Karaya, Guar có pH 5,4 chống hiện tượng thối rữa, cũng có thể lên men và sinh nhiều hơi.

Các sợi thức ăn và chất nhày dùng để trị các chứng táo bón vô căn. Chống chỉ định trong các trường hợp nghi tắc ruột cơ học, loét hành tá tràng, cắt đoạn dạ dày.

Thuốc nhuận tràng và làm mềm phân:

  • Dầu thực vật (như dầu ôliu) uống lúc đói có tác dụng nhuận mật, liều có tác dụng là 30 - 50g/ngày.
  • Dầu Vaselin hoặc Paraphin có tác dụng xổ cơ học bằng cách ngăn chặn sự hấp thu nước. Tác dụng sau 6 - 8 giờ, trong táo bón mạn tính cần dùng kéo dài, thuốc dung nạp tốt và rất ít hấp thu. Trong trường hợp trào ngược dạ dày thực quản, không dùng thuốc này trước khi đi ngủ đề phòng dịch trào ngược vào đường hô hấp.
  • Dùng phối hợp các loại dầu này với cám thường đem lại hiệu quả cao hơn.

Các thuốc nhuận tràng thẩm thấu:

  • Mục đích: Làm tăng áp lực thẩm thấu trong lòng ruột kéo theo nước vào trong lòng ruột, từ đó làm tăng lượng nước trong phân, giúp bài tiết và tống xuất phân ra ngoài.
  • Một số thuốc muối như Magansi, Sulphat, Phosphat có thể được dùng, tuy nhiên chống chỉ định ở bệnh nhân suy tim và suy thận.
  • Các Polyalcon như Lactuse, Lactitol, Lactulose dùng với liều 15 - 45ml/ngày. Tác dụng phụ là gây trướng bụng, đôi khi đau bụng nhiều.
  • Macrogol (biệt dược Forlax, Fortrans) là một hợp chất polymer của Polyethylen Glycol có trọng lượng phân tử cao nên không hấp thu được, thường dùng để chuẩn bị soi đại tràng bằng cách cho uống với 2 - 3 lít nước, ngoài ra cũng được sử dụng trong điều trị táo bón mãn tính. Thuốc chống chỉ định ở các bệnh nhân viêm loét đại trực tràng, tắc ruột, ung thư trực tràng, mất nước, suy tim.

Các thuốc nhuận tràng kích thích nhu động ruột:

  • Đó là các acid Ricinoleic, acid mật, dẫn xuất Diphenylmethan, tác dụng qua nhiều cơ chế khác nhau như ức chế không cạnh tranh với các men ruột, đặc biệt là natri, kali ATPase làm gia tăng AMP vòng, gia tăng tính thấm tế bào, giảm hấp thu nước và tăng tiết dịch trong lòng đại tràng. Các thuốc này không dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú.
  • Phenolphtalein gây đại tiện sau 6 - 8 giờ, làm rối loạn hấp thu nước ở tiểu tràng và đại tràng.
  • Bisacodyl gây ra chuyển động đại tràng và gây tiết dịch đại tràng bằng cách tác động trực tiếp lên niêm mạc đại tràng. Thuốc dung nạp tốt, có thể dùng từng đợt ngắn.
  • Nhóm Anthraquinolic có các sản phẩm tự nhiên là các Aglycol của các cây Cascara, Rhubarbe...vv. Những thuốc xổ thực vật này không hấp thu ở ruột non, chúng chỉ hoạt động khi đến đại tràng, gia tăng sự tống phân bằng cách kích thích tiết Prostaglandin nội sinh, tuy nhiên thuốc bị phân hủy bởi các vi khuẩn ở đại tràng nên các thuốc này mất tác dụng khi dùng kháng sinh diệt vi khuẩn chí ở ruột. Các thuốc này có thể dùng đơn độc hay phối hợp.

Thuốc nhuận tràng tác dụng tại chỗ:

  • Các thuốc này làm phóng thích khoảng 50 - 100ml dịch trong lòng trực tràng và gây kích thích phản xạ đại tiện.
  • Thuốc đạn Glycerin có tác dụng tăng thẩm thấu, thường được dùng phổ biến nhất là Eductyl có tác dụng làm tăng giãn cục bộ, có nhiều kết quả và dung nạp tốt.
  • Thuốc đạn có Bysacodyl có tác dụng sinh nhu động nên không dùng kéo dài.
  • Ngoài ra, có thể thụt tháo bằng các chất nhày hoặc thụt tháo vi lượng, thường hay dùng để chuẩn bị nội soi đại trực tràng, hoặc điều trị táo bón khi nằm lâu để làm mềm phân, tuy nhiên không được dùng kéo dài.

Các câu hỏi liên quan bệnh Táo bón